Bác Hồ với giáo dục và thế hệ trẻ | Trần Thị Ngân sưu tầm
nhasachmienphi-bac-si-tot-nhat-la-chinh-minh-tap-8-de-trai-tim-luon-khoe-manh

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Phạm Thị Dâu
Ngày gửi: 20h:10' 12-05-2024
Dung lượng: 6.8 MB
Số lượt tải: 1
Nguồn:
Người gửi: Phạm Thị Dâu
Ngày gửi: 20h:10' 12-05-2024
Dung lượng: 6.8 MB
Số lượt tải: 1
Số lượt thích:
0 người
Y HỌ CỷSỨ C KHỎE
NHIỄU TÁC GIẢ
Bdc sĩ
tốt nhất
là chính mình
ĐỂ TRÁI TIM LUÔN KMÒE MẠNH
Đúng, X
chính xác
100%
NHÀ XUẤT BẢN TRẺ
3
Bóc sĩ
tốt nhđt
là chính mình
Tập 8: Đề trái tim luôn khỏe mạnh
BIỂU GHI BIÊN MỤC TRƯỚC XUẤT BẢN IX) THƯ VIỆN KHTH TP.HCM THựC HIỆN
Bác sĩ tốl nhất là chính mình T.8. Để trái lim luôn khoe mạnh / Nhicu lác g iã: Lê
Quang lổng hợp -T ái bán l'ân Ihứó. -T.p. H ềChíM inh: Trẻ, 2015.
130 tr .; 20cra.
1. Sức khỏe. 2. Tự chăm sóc sức khoẻ. 3. Tun - Bệnh. I. Lê Quang.
1. HealOi. 2. SelT-care, Health. 3. Heart - Diseascs.
6 IU -d c 2 2
B116
ISBN 978 - 604 - 1- 00904-2
Bác sĩ tắt n h ít chinh mình 8
934974
119517
Y HỌC+SỨ C KHỎE
Nhiều tác giả
BÓC sĩ
tốt nhđt
là chính mình
Tập 8: Để trói tim luôn khỏe mạnh
(Tái bản lần thứ 6)
NHÀ XUẤT BẢN TRẺ
BÁC Sĩ TỐT NHẤT LÀ CHÍNH MÌNH
TẬP 8
Lê QitaniỊ (Tong hợp)
Chịu Irách nhiộm xuất bản:
Giám đốc - Tổng biên tập NGUYỄN MINH NHựT
Biên lập: THANH LIÊM
Biên tập lái hàn: NGỌC PHƯỢNG
Bìa: BIÊN THÙY
Sửa bàn in: VƯƠNG NGHI
Trình bày;
vũ PHƯỢNG
NHÀ XUÃT BÁNTRÈ
Địa chĩ: 161B I.ý Chính Thẩng, Phường 7,
QuẶn 3, Thành phô' Hồ Chí Minh
Điện thoạ i: (08) 39316289 - 39316211 - 39317849 - 38465596
F a x :(08)38437450
E-muil: hopthuhandoc@nxhtre.com.vn
Wcbsile: www.nxblre.com.vn
CHĨ NHÁNH NHÀ XUẤT BẢN TRẺ TẠI HÀ NỘI
Địa chỉ: S ố 21, dãy AI 1, khu Đầm Trâu, Phường Bạch Dằng,
Quận Hai Bà Trưng, Thành phO Hà Nội
Điện thoại: (04) 37734544
F a x :(04)35123395
E-mail: chinhunh@nxblre.com.vn
CỐNG TY TNHH SÁCH ĐIỆN TỬ TRÈ (YBOOK)
16 1B Lý Chính Thắng, P.7. Q.3, Tp. HCM
ĐT: 08 35261001 - Fax; 08 38437450
Email: inro@ybook.vn
Website; www.ybook.vn
Khổ: 14 cm X 20 cm, số: 364-2015/CXBIPH/81-40/Tre
Quyết định xuâ”t bản sô' 234A/QĐ-Tre, ngày 7 tháng 4 năm 2015
In 2.000 cuô'n, tại Xí nghiệp In Nguyễn Minh Hoàng
Địa chỉ: 510 Trưìlng Chinh, phường 13, t)uận Tân Bình
In xong và nộp lưu chiểu quý II năm 2015
LỜI KHUYÊN
DÀNH CHO MỌI NGƯỜI
Trân trọng sức khỏe!
Tận hưởng sức khỏe!
Sáng tạo sức khỏe!
Nếu bạn còn trẻ, và mong muốn được sống vui vẻ và khỏe
mạnh, hãỵ đọc quyển sách này!
Nếu bạn đã già, và mong muốn sống khỏe sống lâu, hãy
đọc quyển sách này!
Nếu bọn nghèo khó, không đủ sức mua thuốc men giá đắt,
hãy đọc quyển sách này!
Nếu bạn giàu có, nhưng lại kém sức khỏe và kém vui, hãy
đọc quyển sách này!
Chỉ cần trích 4 giờ ít ỏi đọc kỹ quyển sách này, nó sẽ mang
lại 36.000 ngày thu hoạch quí giá cho cả cuộc đời bạn!
10 NGHIÊN CỨU MỚI
VỀ BỆNH TIM MẠCH
Những thông tin mới nhốt xung quanh c á c nghiên cứu
khoa họ c về mối liên quan giữa lối sống và bệnh
tim m ợch dưới đây sê giúp bqn có thêm nhiều kiến thức
đ ể phòng tránh cỡn bệnh nguy hiểm này.
1. Các nhà khoa học Canada phát hiện ra rằng những người
có tiền sử bệnh tim mạch phải làm việc căng thẳng sẽ có
nguy cơ mắc bệnh cao gấp 2 lần so với những người làm
việc trong môi trường bình thường. Nghiên cứu được tiến
hành với khoảng 1.000 người ữong vòng 6 năm cho thấy có
ữên 200 người tái phát bệnh ữở lại do làm việc căng thẳng.
2. Theo các nhà nghiên cứu thuộc trường ĐH London, các cặp
vỢ chồng sông không hạnh phúc thường dễ mắc bệnh tim.
Các nhà khoa học thấy rằng những cặp vỢ chồng không
hiểu và đồng cảm với nhau sẽ tăng 34% nguy cơ mắc các
bệnh tim mạch so với những cặp vỢ chồng sông hạnh phúc
và hòa hỢp.
3. Tình trạng suy giảm hoạt động của tuyến giáp có thể làm
tăng nguy cơ mắc các bệnh tim mạch. Theo nghiên cứu mới
nhất thì những người bị giảm hoạt động tuyến giáp dễ mắc
các bệnh tim mạch hơn so với những người có chức năng
tuyến giáp hoạt động bình thường.
4. Những người suy nhưỢc và phiền muộn không được điều
trị kịp thời sau khi bị bệnh tim có nguy cơ tái phát bệnh tim
mạch cao.
5. Các nhà nghiên cứu thuộc ĐH Y Massachusetts cho thấy:
Chương trình giảm cân rất tốt trong việc cải thiện sức khỏe
tim mạch đặc biệt với những người béo phì. Họ cũng cho
rằng chế độ ăn điều chỉnh cân nặng rất tốt cho tim mạch.
6. Các nhà nghiên cứu thuộc Bệnh viện đa khoa Massachusetts
đã tìm ra mối liên quan giữa sự sỢ hãi và bệnh tim mạch.
Họ thấy rằng những phụ nữ lớn tuổi phải trải qua cảm giác
sỢ hãi trong thời gian suốt 6 tháng tăng nguy cơ mắc các
bệnh tim mạch và đột quỵ trong 5 năm cao hơn tới 3 lần so
với những người không trải qua cảm giác sỢ hãi.
7. Các nhà nghiên cứu thuộc Trường Y Sinai đã phát hiện
ra rằng ăn các thực phẩm nhiều chất béo đưỢc chế biến ở
nhiệt độ cao có thể gây rối loạn tình trạng giãn mạch - một
trong những nguyên nhân gây ra các bệnh tim mạch.
8. Những phụ nữ lớn tuổi uống nhiều viên bổ sung calcium
cũng có nguy cơ mắc bệnh tim mạch. Nghiên cứu của ĐH
Auckland cho thấy: Những phụ nữ trên 70 tuổi sử dụng viên
bổ simg calcium làm tăng nguy cơ mắc các bệnh tim mạch
lên 40%.
9. Trong củ hành, tỏi tây, hẹ và hành tươi rất giàu các hỢp
chất có tác dụng giảm cholesterol, làm sạch thành mạch
máu và giảm chứng xơ cứng động mạch.
10. Dậy sớm trước 5 giờ sáng rất có hại cho tim. Các nhà
nghiên cứu Nhật Bản đã phát hiện ra rằng những người
dậy sớm buổi sáng có nguy cơ mắc các bệnh tim mạch như
huyết áp cao, dột quỵ và xơ cứng động mạch cao hơn những
người dậy muộn.
TIM MẠCH NHỮNG CHỈ SỐ CẦN BIẾT
Một số bệnh tật là do di truyền nhưng chúng ta vẫn có thể
cải thiện tình hình bằng cách thay đổi lôì sông, không hút
thuốc và dành ít nhất 30 phút mỗi ngày để lắng nghe những
lời khuyên về sức khỏe và cô" gắng thực hiện nó.
Để hiểu rõ hơn những chỉ số về tim mạch, chúng ta cần biết
những điều cơ bản sau:
C-Reactíve Protein
Đây là chỉ số mới trong danh sách những con số liên quan
đến bệnh tim. Các nhà nghiên cứu đã nhận thấy rằng protein
này như một kháng nguyên cho bệnh tim và đột quỵ. Mặc
dù chưa có đầy đủ thông tin về môi quan hệ giữa C-Reactive
Protein (CRP) và bệnh tim, nhưng sự xuất hiện của nó là dấu
hiệu của chứng phình mạch máu.
Có thể bạn không hiểu gì về CRP nhưng rất nhiều bác sĩ
đã dùng nó để chẩn đoán nguy cơ bệnh tim mạch và đột quỵ.
10
Vậy chỉ số CRP như thế nào là bình thường?
- l.Omg/dL hoặc ít hơn: Bình thường.
- Từ 1.0 đến 3.0mg/l: Mức độ nguy hiểm trung bình.
- Cao hơn 3.0mg/dl: Rủi ro cao.
Nếu người trong gia đình có tiền sử mắc bệnh tim thì bạn
cũng có thể có chỉ sô" C-reactive protein cao do di truyền từ
gia đình dù bạn có thể không bị bệnh.
Huyết áp
Một trong những kháng nguyên mạnh nhất đôi với bệnh
tim là chỉ sô" đo áp huyết (áp lực trong máu). Vậy chỉ sô" đó
có ý nghĩa gì?
- Chỉ sô' cao nhất chính là huyết áp tâm thu (huyết áp tô'i
đa) - đó là áp lực của máu ở thành động mạch trong suốt một
nhịp đập của tim, khi tim đang bơm máu đi.
- Chỉ sô" thứ hai là huyết áp tâm trương (huyết áp tối thiểu)
- đó là áp lực của máu ở thành động mạch giữa các nhịp đập
của tim, khi tim đang đầy máu.
- Huvết áp bình thường khoảng 119/79 hoặc thấp hơn.
- Huyết áp hơi cao khoảng 120 đến 139 (tâm thu) và từ 80
đến 89 (tâm trương).
- Huyết áp cao từ 140 hoặc cao hơn (tâm thu) và từ 90 trở
lên (tâm trương).
11
Các chuyên gia khuyên rằng những người có khả năng bị
huyết áp cao (khoảng 45 triệu người) nên thay đổi lối sống để
giúp “trái tim khỏe mạnh” hơn, giảm thiểu những rủi ro do
biến chứng cao huyết áp để lại như bệnh tim, đột quỵ, tai biến
mạch máu năo và những bệnh nguy hiểm về thận.
Cholesterol
Một trong những nguy cơ dẫn tới bệnh tim là mức
cholesterol, yếu tố dinh dưỡng cần thiết của cơ thể. Tuy nhiên,
quá nhiều cholesterol xấu hoặc không đủ lượng cholesterol
tốt trong máu sẽ gây ra xơ vữa động mạch dẫn đến bệnh tim
và đột quỵ.
Mức độ cholesterol không bình thường khi:
- Tổng sô" cholesterol khoảng 200mg/dl hoặc cao hơn.
- HDL (mức độ cholesterol tô"t) ít hơn 40mg/dl.
- LDL (mức độ cholesterol xấu) khoảng 16Qmg/dl hoặc cao
hơn. Và với 190mg/dl là râ"t cao.
Tuy nhiên nếu bạn giữ LDL ở mức thấp là tốt nhất. Nếu LDL
ít hơn lOOmg/dl được coi là tốt nhất, từ 100 đến 129: tạm đưỢc
và từ 130 đến 159 là ranh giới dễ chuyển sang mức LDL cao.
Trọng lượng cơ thể
Có râ"t nhiều cách để biết bạn có quá béo hay không nhưng
cách tính BMI (Body Mass Index - chỉ sô" khô"i lượng cơ thể)
sẽ cho kết quả tương đối chính xác. BMI sử dụng cân nặng và
12
chiều cao để đo toàn bộ cơ thể béo hay gầy. Bạn có thể dùng
biểu đồ sau để đánh giá BMI của mình:
- BMI từ 18,5 đến 24,9: Lý tưởng.
- BMI từ 25 đến 29,9; Thừa cân.
- BMI trên 30: Béo phì.
- BMI trên 40: Quá béo phì, nguy cơ mắc các bệnh khác là
rất cao.
Đái tháo đường type 2
Thừa cân và ít tập thể dục là nguyên nhân dẫn đến bệnh
đái tháo đường type 2. Không chỉ vậy, nó còn dẫn đến nhiều
bệnh đáng sỢ khác như bệnh tim, đột quỵ, thận, thậm chí gây
mù mắt.
Nếu bạn kiểm tra thấy lượng đường trong máu tăng nhanh
sau khi không ăn uống bất cứ thứ gì, kể cả uô"ng nước sau 8
tiếng thì nói chung bạn sẽ được chẩn đoán mắc bệnh đái tháo
đường type 2.
- Lượng đường trong máu thông thường ít hơn lOOmg/dl.
- Tiền đái tháo đường: 100 đến 125mg/dl.
- Mắc bệnh đái tháo đường từ 126mg/dl trở lên.
Vì vậy thường xuyên kiểm tra và giữ các chỉ số về huyết áp,
cholesterol, C-Reactive Protein, BMI, chỉ sô" đường trong máu
sẽ giúp bạn thoát đưỢc gánh nặng bệnh tật cho mình.
13
RỐI LOẠN NHỊP TIM:
NGUYÊN NHÂN VÀ
C Á C H PHÒNG TRÁNH
Hoợt động bình thường củ a tim sé bị ánh hưởng khi bị
một trong ba thành phồn: cơ tim, van tim, hệ thần kinh
tim bị tổn thương. Tổn thương hệ thần kinh tim làm xung
động dân truyền trong tim bị rối loợn. dân đến c á c buồng
tim co bóp không theo tuồn tự. Máu được hút đẩy
không đều trong tim gâ y hậu quá là máu ứ lợl trong
tim đồng thời m áu không được cung c ố p đầy đủ
cho hệ tuồn hoàn gây ra rối loợn nhịp tim.
Các biểu hiện của rôi loạn nhịp tim
Một số rôì loạn nhịp tim không gây biểu hiện gì, tuy nhiên
phần lớn các bệnh rô"i loạn nhịp tim đều có các biểu hiện rất
rõ bằng các dấu hiệu:
1. Với loạn nhịp tim nhanh và nhịp không đều
Hồi hộp, đánh trống ngực: nhịp tim đập dồn dập hoặc đập
tăng dần.
Hụt hẫng: nhịp tim đập cách quãng trong giầy lát.
14
Khó thở - thở nhanh, nông: nhịp tim đập loạn xạ, hay nhiều
nhịp cách quãng xuất hiện trong thời gian ngắn.
Một số biểu hiện hay gặp khác: đau ngực, choáng váng, hoa
mắt, đau đầu nhẹ dai dẳng.
Khi nhịp tim đột ngột đập nhanh loạn xạ có thể là báo hiệu
của đe dọa tính mạng.
2. Với loạn nhịp tim chậm
Các biểu hiện kín đáo hơn: mệt mỏi triền miên, hoa mắt
choáng váng, đau đầu nhẹ dai dẳng, có thể ngất. Phần lớn
các bệnh nhân rô'i loạn nhịp tim bị ngất đột ngột mà không
có dấu hiệu báo trước.
Tuy nhiên đôi khi người bệnh thấy được một số biểu hiện
báo trước: hoa mắt, chóng mặt; nhìn thấy quầng xanh trước
mắt; vã mồ hôi; nôn hoặc buồn nôn; chướng bụng; đánh trông
ngực; đau đầu; lú lẫn hay khó diễn đạt suy nghĩ.
Nguyên nhân gây ra rối loạn nhịp tim
Mọi người đều từng trải qua cảm giác tim của mình đập rối
loạn trong một khoảnh khắc nào đó, tuy nhiên sự xuất hiện
đó qua đi và không ảnh hưởng đến cuộc sông. Nhưng cũng
có những rối loạn nhịp tim tồn tại, ảnh hưởng hoặc gây nguy
hiểm đến cuộc sông do đó cần được chẩn đoán và điều trị
kịp thời.
Nguyên nhân gây rối loạn nhịp tim có thể chia ra là nguyên
nhân bẩm sinh và nguyên nhân mắc phải:
15
Nguyên nhân bẩm sinh: Biểu hiện bệnh có thể từ nhỏ hoặc
xuất hiện trong bất kỳ giai đoạn nào của cuộc sông.
Nguyên nhân mổc phải: Bệnh lý cơ tim, van tim và một số
nguyên nhân khác tác động tới hệ thần kinh tim, dẫn tới các
hoạt động bât thường của hệ thần kinh tim.
Một sấ rôíi loạn nhịp tim hay gặp
Rô'i loạn nhịp nhanh thất, có thể gặp các biểu hiện như;
1. Nhịp nhanh nhĩ
Xuất hiện một ổ phát nhịp khác với nút xoang ở tâm nhĩ,
nó phát ra các xung động lấn át xung động từ nút xoang làm
tim đập rất nhanh, không đều.
• Rung nhĩ: Tâm nhĩ co bóp loạn xạ và rất nhanh lên đến
trên 350 nhịp/phút, đồng thời làm cho tâm thất co bóp nhanh
và không đều. Loạn nhịp này dễ dẫn đến các rôì loạn nhịp
khác. Rung nhĩ gây biểu hiện mệt mỏi mãn tính, suy tim ứ
máu và nguy cơ đột quỵ cao hơn 5 lần so với người không bị
rung nhĩ.
• Cuồng nhĩ: Là tình trạng tâm nhĩ đập rất nhanh, thậm
chí lên đến 300 nhịp/phút và hậu quả là tim đập rất nhanh
và không đều.
• Nhịp xoang nhanh: Nhịp xoang nhanh thường gặp trong
lúc lo lắng hay tập luyện, khi nghỉ ngơi thì nhịp sẽ trở lại bình
thường. Trong một sô" bệnh như sô"t cao, thiếu máu hay cường
tuyến giáp cũng có nhịp nhanh xoang và khi bệnh đưỢc điều
trị, nhịp tim cũng sẽ trở lại bình thường.
16
2. Nhịp nhanh thốt do rung thất.
• Rôì loạn nhịp nhanh thất
- Nhịp nhanh thất tự phát: Do một nhóm tế bào tại tâm thất
phát ra xung động kích thích tâm thất co bóp, làm tâm thất co
bóp không đều với tâm nhĩ.
- Nhịp nhanh thất do bệnh tim thiếu máu cục bộ: Vùng cơ
tim bị thiếu máu trong bệnh mạch vành gây ra vết sẹo, vết sẹo
này tạo nên những đường dẫn truyền xung động bất thường
trong tâm thất, kích thích tâm thất co bóp mà không cần xung
động từ tâm nhĩ chuyển xuông. Với hai tổn thương trên, tâm
thất đều co bóp khi chưa chứa đủ máu, do đó tim đập rất
nhanh mà máu vẫn không được bơm đủ ra hệ tuần hoàn. Bệnh
nhân thường cảm thấy mệt mỏi, khó tập trimg, thở nhanh. Nếu
không điều trị kịp thời dễ xuất hiện rung thất.
• Rối loạn nhịp chậm
Khi nhịp tim chậm xuông dưới 60 nhịp/phút, có nguy cơ
không cung cấp đủ máu ra hệ tuần hoàn, tuy nhiên với những
người thường xuyên hoạt động thể thao, nhịp tim của họ có
thể thấp dưới 60 nhịp/phút.
Rối loạn nhịp chậm có thể không gây biểu hiện gì rõ rệt,
có thể xuất hiện những biểu hiện sau: mệt mỏi, chóng mặt,
choáng váng, đau đầu, thở nông hoặc ngất.
Rối loạn nhịp chậm chia ra hai loại chính:
- Suy yếu nút xoang: Suy yếu nút xoang không phải là một
bệnh đặc trưng, nó thể hiện bằng một nhóm các triệu chứng
thể hiện nút xoang không duy trì hoạt động bình thường. Nhịp
17
tim có thể chuyển luân phiên từ rối loạn nhịp chậm sang nhịp
nhanh.
- Block nhĩ thất: Block nhĩ thất là hiện tượng xung động bị
cản trở khi đi từ tâm nhĩ xuống tâm thất.
Điều trị
Tùy theo từng nguyên nhân gây rô"i loạn nhịp tim mà có
cách điều trị như: dùng thuốc, can thiệp tim mạch hay phẫu
thuật. Dù là phương pháp điều trị nào thì bệnh nhân cũng phải
thực hiện các thói quen tô"t trong cuộc sống như: tập luyện,
không hút thuôh lá, chế độ ăn uô"ng và sinh hoạt hỢp lý.
Phòng tránh rối loạn nhịp tim bằng cách nào?
1. Lựa chọn một thói quen sống tốt: tập luyện thường xuyên,
ăn ít châ"t mỡ, ăn nhiều rau và các thực phẩm chứa nhiều
vitamin, duy trì cân nặng ở mức cho phép.
2. Không hút thuôc lá.
3. Hạn chế dùng các chất gây kích thích cho tim như cà
phê, rượu...
4. Tránh các căng thẳng, bảo đảm đủ thời gian nghỉ ngơi.
5. Kiểm tra sức khỏe định kỳ.
6. Điều trị tô't các bệnh lý liên quan: bệnh xơ vữa động
mạch, mỡ máu cao, bệnh mạch vành, bệnh van tim, bệnh
tuyến giáp...
18
KHÁI NIỆM VẾ
CHOLESTEROL TRONG MÁU
Cholesterol là gì?
Cholesterol là một chất béo mềm, màu vàng nhạt, kết tinh
đưỢc tìm thấy trong máu chúng ta. Nó được sản xuất hàng
ngày trong gan (nguồn gô'c nội sinh), mỗi ngày từ l,5g - 2g.
Nguồn gô'c cholesterol ngoại sinh là từ việc ăn uô'ng các chất
mỡ động vật.
Cholesterol đưỢc lấy đi khỏi cơ thể bởi gan dưới dạng mật.
Cholesterol cần thiết cùng với các chất béo khác để tạo ra
màng tế bào, các hormone steroid và sinh dục (testosterone
và estrogen). Do tính chất không hòa tan trong máu nên
cholesterol lưu chuyển khắp cơ thể cần có sự trỢ giúp của các
chất chuyên chở là lipoprotein, gồm lipoprotein có tỉ trọng
thấp (LDL) và lipoprotein có tỉ trọng cao (HDL). Hai loại này
chỉ phân biệt đưỢc bởi tính chất rất khác nhau về tỉ trọng.
LDL có nhiệm vụ chuyên chở cholesterol từ gan đi khắp
các mô và tế bào cơ thể, trong khi HDL phân phát lại phần
cholesterol không dùng đến trở về gan, phân hủy sau cùng
19
thành các muôi mật được thải trừ bằng đường tiêu hóa.
Cholesterol máu được đo bằng đơn vị mg/dl (hay mg%).
Mức cholesterol cho LDL của người khỏe mạnh nên thấp
hơn 130mg/dl, trong khi HDL nên cao hơn mức ngưỡng là
50mg/dl. Tuy nhiên chúng ta cũng cần lưu ý thêm về tỉ lệ giữa
HDL và LDL.
Tại sao cholesterol dược cho ià luôn liên hệ đến các
bệnh tim mạch?
Khi cơ thể chúng ta có một mức quá cao LDL (cholesterol
xấu) như là trên 160mg/dl, chúng bắt đầu tích tụ lại ở mặt
trong thành các động mạch, tạo ra các mảng bám. Hơn nữa,
cục máu đông có thể xuất hiện trên các mảng này làm giảm
đi lượng máu lưu thông, oxygen và các chất dinh dưỡng đi ra
từ tim nhằm cung cấp cho não chúng ta. Hiện tượng đó chắc
chắn tạo ra các bệnh tim mạch, thường dẫn đến các cơn đau
tim và tai biến mạch não.
Tuy vậy cũng có trường hỢp ngoại lệ là có những người có
một mức cholesterol khá cao lại không mắc bệnh tim mạch
nào cả.
Thực phẩm trong thiên nhiên làm giảm cholesterol
trong máu
1. Trong trái táo (apple) có nhiều chất pectin, một chất đưỢc
cho là giảm được lượng châT béo hâ'p thụ bởi các tế bào
mỡ, bao gồm cả phần nạc trái táo khi chúng ta uô"ng nước
táo xay.
20
2. Trái lê tàu rất giàu chất béo nhóm không bão hòa đơn,
giúp làm giảm được cholesterol. Nó còn có thêm một chất
sterol là beta-sitosterol được biết có tác dụng ngăn ngừa
sự tái hấp thụ cholesterol ở ruột; như thế giảm được mức
cholesterol máu.
3. Trái dưa chuột cũng có chứa một loại sterol giảm được
cholesterol.
4. Củ tỏi giúp giảm cholesterol máu và huyết áp. Tỏi tươi rất
rẻ, nên có sẵn trong các bữa ăn của bạn. Cách tốt nhất để
giữ được các chất này không bị phá hủy là ăn sông, và chỉ
nên thêm vào lúc bắt đầu ăn. Tỏi còn được cho là một chất
làm mỏng thành mạch máu.
5. Gừng không chỉ thông dụng trong dân gian dùng để chống
chứng say tàu xe, mà còn có khả năng giảm cholesterol
máu, nên dùng nhiều trong chế biến thức ăn của bạn.
6. Trà xanh có chất chông oxy hóa nên thường dùng để chông
lại tác dụng tổn hại của các gốc tự do.
7. Các loại đậu: đậu nành, đậu xanh, đậu lăng (lentil) có
nhiều chất sỢi tan cũng có tác dụng giảm được cholesterol.
8. Các loại quả như óc chó (walnut), hạnh (almond) có nhiều
chất béo không bão hòa đơn.
9. Dầu olive cũng chứa nhiều chất béo không bão hòa đơn.
10. Policosanol chiết xuất từ sáp ong, phấn sáp của đường mía
giúp giảm LDL cholesterol và tăng HDL, giảm hiện tượng
máu cục và cải thiện tô"t tuần hoàn.
21
11. Tập ứiể dục nhẹ thật đều đặn tôd hơn là tập quá sức không
đều: chỉ cần tập độ 30 phút mỗi ngày và 3 ngày trong
tuần như đi bộ, chạy lúp xúp, đi xe đạp, tập đi bằng thang
thường thay vì dùng thang máy, năng làm công việc nhà.
12. Hạt lanh (Aaxseed) dạng dầu có nhiều omega - 3, acid béo
đưỢc khảo sát có tác dụng tốt giúp giảm cholesterol.
13. Protein đậu nành: một nguồn protein thực vật trong thiên
nhiên tốt hơn thịt. Nên ăn những thức ăn từ đậu nành bao
gồm đậu hũ, sữa đậu nành và mọi sản phẩm chế biến từ
đậu nành.
14. Cà chua: cũng chứa một chất chông oxide hóa là lycopene
(tạo ra màu sắc cà chua) giảm đưỢc LDL cholesterol.
15. Niacin (vitamin B3) giúp giảm cholesterol máu nhưng có
tác dụng phụ là làm đỏ da.
22
AI DẾ BỊ
NHỒI MÁU C ơ TIM?
Những người trong nhóm dưới đây thường dễ bị nhồi máu
cơ tim:
- Trong gia đình có người bị thiếu máu cục bộ cơ tim.
- Hút thuôc lá nhiều.
- Rối loạn chuyển hóa mỡ máu.
- Mắc bệnh tăng huyết áp, đái tháo đường, béo phì.
- ít vận động thể lực.
- Sông trong môi trường dễ bị stress.
Dấu hiệu dễ nhận biết nhất của chứng thiếu máu cục bộ cơ
tim là cơn đau thắt ngực với các đặc điểm sau:
- Thường xảy ra sau khi gắng sức, làm việc nặng, xúc động
mạnh, sau bữa tiệc thịnh soạn, khi thời tiết quá lạnh.
- Có cảm giác đau ở ngực trái, vùng trước tim, đôi khi chỉ
thấy khó chịu; hoặc có cảm giác nặng như bị đè ép ở sau xương
ức, cảm giác này lan đến cổ, hàm, vai trái, cánh tay trái.
23
Cơn đau chỉ diễn ra trong vài giây đến vài phút, thường
không quá 5 phút. Khi đau kéo dài quá 15-20 phút, phải nghĩ
đến nhồi máu cơ tim. Tần suất cơn đau thường thay đổi: có
thể vài tuần, vài tháng một lần, nếu nặng hơn thì vài lần ừong
một ngày. Đồng thời với đau ngực, người bệnh cảm thấy hồi
hộp, lo âu, khó thở, vã mồ hôi, buồn nôn, đánh trông ngực,
choáng váng.
24
CHỨNG NHỐI MÁU cơ TIM
VÀ C Á C H XỬ TRÍ
Đó là hiện tượng mạch máu nuôi tim (động mạch vành) bị
tắc nghẽn khiến cơ tim chết đi và không thể hồi phục. Nếu
không điều trị kịp thời, vùng cơ tim bị tổn thương sẽ lan rộng
và dẫn đến tử vong. Nếu tổn thương nhỏ, bệnh nhân sẽ bị suy
tim hoặc tăng nguy cơ đột tử.
Nhồi máu cơ tim thường xảy ra ở nam giới trên 45 tuổi và
phụ nữ đã mãn kinh (sau 50 tuổi). Tuy nhiên, những người trẻ
hơn cũng có thể bị tai biến này. Ngoài yếu tố tuổi tác, các yếu
tô' sau cũng làm tăng nguy cơ nhồi máu cơ tim:
- Từng bị nhồi máu cơ tim hoặc thực hiện các thủ thuật can
thiệp mạch vành.
- Bô' hoặc anh được chẩn đoán bệnh mạch vành trước 55
tuổi; mẹ hoặc chị được chẩn đoán bệnh này trước 65 tuổi,
- Có một trong các bệnh: đái tháo đường, tăng cholesterol
máu, tăng huyết áp, béo phì.
- Hút thuốc lá.
- ít hoạt động thể lực.
25
triệu chứng nhồi máu cơ tim, người ta thường nghĩ đến
hình ảnh một người đột ngột ôm ngực kêu đau dữ dội và ngã
xuông. Nhưng thực ra, nhiều bệnh nhân chỉ bị một cơn đau
ngực nhẹ ở giữa xương ức và triệu chứng này có thể nhanh
chóng qua đi, khiến người bệnh cho là bình thường. Những
dâ'u hiệu sau đây có thể báo hiệu nhồi máu cơ tim:
về
- Đau ngực: Phần lớn các cơn đau ngực xuất hiện ở giữa
xương ức, kéo dài vài phút, sau đó hết rồi lại đau lại. Bệnh
nhân có cảm giác như bị đè nặng, bóp nghẹt ở ngực.
- Có cơn đau ở các vị trí khác như tay, lưng, cổ, hàm, thượng
VỊ.
- Khó thở: Thường đi kèm với đau ngực, nhưng có thể xuất
hiện trước đó.
- Các triệu chứng khác: Toát mồ hôi lạnh, nôn, choáng
váng. Một số bệnh nhân có cảm giác như “trời sắp sụp”.
Tuy chứng nhồi máu cơ tim rất nguy hiểm nhưng nếu nhận
biết sớm để điều trị kịp thời (dùng thuôc làm tan huyết khôi
hoặc phẫu thuật nong động mạch vành), bệnh nhân sẽ tránh
được tử vong và những biến chứng sau đó. Các biện pháp trên
có thể hạn chế tôl đa vùng cơ tim bị chết, hồi phục một sô"
vùng mới tổn thương. Càng vào viện sớm, khả năng hồi phục
hoàn toàn càng cao. Hiệu quả điều trị sẽ tô"t nhâl nếu bệnh
nhân được xử trí trong vòng 1 giờ đầu.
Vì vậy, khi có những dấu hiệu báo trước cơn nhồi máu cơ
tim kể trên, hây đến ngay bệnh viện hoặc gọi ngay cấp cứu.
Tại cơ sở y tế, bác sĩ sẽ xác định xem có đúng bạn bị nhồi máu
26
cơ tim hay không bằng cách hỏi các câu như: Cơn đau ngực bắt
đầu từ lúc nào, đột ngột hay từ từ? Bạn đang làm gì khi đó?
Mức độ đau như thế nào? Cơn đau kéo dài bao lâu? Có triệu
chứng gì đi kèm (nôn, toát mồ hôi, choáng váng, cảm giác hồi
hộp đánh trống ngực)?
Để xác định chẩn đoán, bác sĩ sẽ cho làm một sô" xét
nghiệm như điện tâm đồ, chụp động mạch vành. Những biện
pháp này cũng giúp bác sĩ lựa chọn phương pháp điều trị.
Cách điều trị tô"t nhất hiện nay cho chứng nhồi máu cơ tim
là can thiệp mạch vành, và phẫu thuật này chỉ có tác dụng
trong 12 giờ đầu.
27
BỆNH SUY TIM
Tim có hai chức năng cụ thể:
1. Co bóp để đẩy máu qua các động mạch đi nuôi toàn cơ
thể.
2. Giãn ra để hút máu đã hết oxy và chứa chất thải trở về
tim qua các tĩnh mạch.
Nếu vì một lý do nào đó tim không làm trọn được một trong
hai chức năng đó, hoặc cả hai, người ta nói đó là suy tim. Như
vậy suy tim không phải là một bệnh, mà là một hội chứng,
nghĩa là một tập hỢp của nhiều triệu chứng và dấu hiệu. Vậy
nguyên nhân nào dẫn đến suy tim?
Trước hết, tất nhiên các bệnh của bản thân tim là nguyên
nhân thường gặp nhất của suy tim. Có thể nói rằng bệnh nào
của tim cuôl cùng cũng đưa đến suy tim, chẳng khác gì thời
cổ đại, người ta hay nói rằng con đường nào cũng dẫn đến
thành Rome.
Những bệnh chính của tim có thể gây suy tim là:
Những bệnh tim bẩm sinh mắc từ khi còn nằm trong bụng
mẹ, như: thông liên nhĩ, thông liên thâ't, còn ô"ng động mạch...
Cứ 100 trẻ đẻ sớm, thì có 1 trẻ mắc bệnh tim bẩm sinh.
28
Những bệnh van tim do thấp khớp cấp để lại hậu quả,
nhiều nhất là hẹp hai lá, rồi đến hở hai lá, hở van chủ, hẹp
van chủ. Những bệnh này thường mắc từ tuổi đi học, 7-16 tuổi,
nhưng phần nhiều lớn lên mới được chẩn đoán. Đây là nguyên
nhân suy tim hay gặp nhất ở Việt Nam.
Những bệnh tim do thiếu máu cục bộ, như đau thắt ngực,
nhồi máu cơ tim, một sô" rô"i loạn nhịp tim hoặc suy tim. Đây
là bệnh của những người đứng tuổi 40-50 tuổi trở lên, động
mạch vành hay bị hẹp vì xơ vữa.
Những chứng viêm cơ tim do nhiễm trùng; những bệnh cơ
tim nguyên nhân chưa rõ như bệnh cơ tim giãn, bệnh cơ tim
phì đại, tuổi nào cũng có thể mắc.
Hai chức năng của tim
a. Tăm thu, tim bơm máu vào động mạch phổi đ ể được oxyhóa
b. Tâm trương, tim hút máu từ các tĩnh mạch về
29
Những bệnh màng ngoài tim như tràn dịch, viêm co thắt
màng ngoài tim, phần lớn do nhiễm trùng các loại, nên không
phụ thuộc vào tuổi.
Những rô"i loạn nhịp tim như loạn nhịp hoàn toàn (còn gọi
là rung nhĩ), tim quá chậm hoặc quá nhanh, dù do thiếu máu
cục bộ hay không, cũng có thể gây suy tim.
Các bệnh khác có khả năng gây suy tim
Ngoài những bệnh của quả tim kể trên, một sô' bệnh của
mạch máu chủ yếu là của động mạch, cũng có thể đưa đến
suy tim. Quan ữọng nhất là tăng huyết áp, còn hẹp động mạch
vành đã được coi là thiếu máu cục bộ cơ tim nói ở trên rồi.
Hẹp động mạch thận cũng có thể dẫn đến suy tim vì nó cũng
làm tăng huyết áp.
Những bệnh của phế quản hoặc phổi mãn tính (gọi là
COPD - Chronic Obstructive Pulmonary Disease = bệnh phổi
tắc nghẽn mãn tính) lâu ngày có thể đưa đến suy tim, gọi là
tim phổi mạn. Cuô'i cùng một sô' bệnh toàn thân cũng có khi
dẫn đến suy tim, điển hình là suy tim do tuyến giáp hoạt động
thái quá hoặc kém quá (suy giáp); nhiễm độc giáp; suy tim do
thiếu máu. Một sô' nhiễm độc hoặc suy dinh dưỡng, rối loạn
điện giải cũng đôi khi gây ra suy tim.
Nên chú ý rằng lao động thể lực quá sức nếu tim bình
thường, không thể đưa đến suy tim được. Người đưa tin chiến
thắng chạy 42km từ Marathon đến Athens (Hy Lạp) năm 490
trước Công nguyên, chết vì kiệt sức chứ tim không suy. Gần
30
đây, một sô' võ sĩ quyền Anh chết ngay sau trận đấu, cũng
không phải vì suy tim, mà vì chảy máu não. Cho nên nếu tim
không có bệnh thì các vận động viên cũng như những người
lao động nặng, không nên sỢ suy tim mà không dám tập và
làm việc hết sức mình.
Đôi với lao động trí óc cũng vậy, làm việc quá sức cũng
không gây suy tim. Mất ngủ kéo dài, buồn phiền lo lắng, căng
thẳng tinh thần có thể gây những rô'i loạn chức năng nhẹ về
thần kinh tim chứ không thể trực tiếp gầy suy tim được. Theo
kinh nghiệm thực tế Việt Nam, có thể phần nào dựa theo tuổi
để tìm nguyên nhân suy tim. ớ tuổi trẻ, thanh thiếu niên bị
suy tim phần nhiều do thấp khớp cấp, các bệnh van tim, các
bệnh tim bẩm sinh, ở người đứng tuổi, từ 40-45 trở lên, nên
nghĩ đến các nguyên nhân tăng huyết áp, thiếu máu cục bộ
cơ tim, nhồi máu cơ tim. Còn các nguyên nhân có thể gặp ở
bất kỳ tuổi nào là viêm cơ tim, viêm màng ngoài tim, bệnh cơ
tim, rôl loạn nhịp tim và các bệnh toàn thân.
Triệu chứng của suy tim ià gì?
Khó thở là dâu hiệu quan trọng nhâ't.
Khó thở ở đây có nghĩa là người bệnh phải khó nhọc hơn
bình thường mới thở đưỢc. Có người dùng những từ khác chỉ
triệu chứng khó thở như: hụt hơi, ngắn hơi, thở gấp, tức thở.
Người ngoài nhìn thấy cũng thấy bệnh nhân thở nhanh hơn,
nông hơn và có vẻ khó nhọc hơn.
Khi suy tim mới bắt đầu, chỉ khi nào hoạt động nặng, khi
31
nào gắng sức mới khó thở vì thế gọi là khó thở gắng sức. Tất
nhiên người bình thường cũng thấy khó thở khi làm nặng.
Nhưng người suy tim dễ bị khó thở hơn nhiều. Dần dần suy
tim càng nặng bao nhiêu thì người bệnh càng khó thở nhiều,
thậm chí có người chỉ bước lên vài bậc thềm, hoặc tự tắm giặt
kỳ cọ cũng khó thở. Cuối cùng, người bệnh khó thở cả khi ngồi
nghỉ không làm gì cả.
Người bệnh nên chú ý nhận xét xem mình gắng sức đến
mức nào thì bắt đầu khó thở, để đánh giá mức độ khó thở.
Nên chú ý rằng “gắng sức”, ở đầy chỉ tính đến những gắng
sức về thể lực như lên dô"c, mang vác nặng, chạy, nhảy, đi
ngược gió... Đó là những gắng sức tiêu thụ nhiều oxygen. Các
gắng sức về trí óc như suy nghĩ tìm cách giải quyết một vấn
đề gì, tập trung tư tưởng học tập, lo lắng vì kinh tế khó khăn,
không đòi hỏi nhiều oxygen nên cũng không gây khó thở và
suy tim.
Căn cứ vào mức độ khó thở, xảy ra khi gắng sức ít hay
nhiều, ngày nay các nhà chuyên khoa Việt Nam cũng như trên
thê giới chia ra 4 độ suy tim:
Suy tim độ I: Người bệnh chưa thấy triệu chứng gì của suy
tim dù lúc nghỉ ngơi hay khi gắng sức, sinh hoạt hàng ngày
vẫn bình thường. Có thể coi là suy tim tiềm ẩn.
Suy tim độ II: Sinh hoạt hàng ngày đã bị ảnh hưởng nhẹ,
nghỉ ngơi thì không có triệu chứng gì, nhưng hoạt động thường
nhật đã thấy khó thở. Có thể gọi là suy tim nhẹ.
Suy tim độ III: Sinh hoạt bị ảnh hưởng mức độ trung bình,
32
nghĩa là nghỉ ngơi vẫn không có ữiệu chứng gì, nhiing chỉ hoạt
động nhẹ hơn thường nhật đã thấy khó thở rồi. Đây là suy tim
trung bình.
Suy tim độ IV: Sinh hoạt bị ảnh hưởng nhiều, cả khi nghỉ
ngơi cũng thấy khó thở, chỉ làm được những việc nhẹ.
Suy tim ở đây đưỢc coi là nặng, ở các độ tnmg bình và nặng
(độ III và IV), khó thở có khi xuất hiện cả lúc nằm buộc bệnh
nhân phải ngồi suô't đêm. Cũng nên hiểu qua tại sao suy tim
lại làm bệnh nhân khó thở? Vì “bơm” tim bị yếu, không hút
được máu từ phổi về nên phổi bị ứ huyết. Do đó phổi mất tính
đàn hồi trở nên cứng đờ, các cơ thở phải mất nhiều công sức.
Như vậy chúng vừa phải làm việc nhiều hơn, mà lại chỉ nhận
đưỢc ít oxygen hơn do suy tim, nên chóng mệt hơn.
Triệu chứng khó thở này khá đặc trưng cho suy tim nhưng
lại làm cho bệnh nhân, đôi khi cho cả thầy thuôc ít kinh
nghiệm, tưởng là bệnh phổi, và đi khám lao hoặc khám hen.
Chúng tôi đã gặp nhiều bệnh nhân dã đi “vái tứ phương” nhất
là phương Viện Lao và Bệnh viện Phổi, Bệnh viện Dị ứng, cuối
cùng mới đến “phương” đúng là Bệnh viện Tim mạch.
Các triệu chứng khác không quan trọng bằng;
- Ho, cũng vì máu ứ trong phổi. Ho khan hoặc ho ra máu,
thường xuất hiện khi gắng sức. Phù, do máu ứ ở các tĩnh mạch
xa tim không được “hút” về tim. Gan to, cũng do máu ứ ở gan.
Đái ít vì thận không được nhận đủ máu do tim suy.
- Trông ngực vì tim suy hay đập nhanh.
- Mệt mỏi, yếu cơ vì máu không đến đủ nuôi các cơ.
33
“Bóng tim ” khi chụp X quang
a.
Tim bình thường, tỉ lệ tim/ngực dưới 50%.
h. Tim to, trường hỢp này vì hẹp - hở hai lá, tỉ lệ tim/ngực 68%.
Còn các triệu chứng không phải của suy tim: ngất, đau ngực,
ngủ mê, bóng đè... Những triệu chứng này có thể là của bệnh
tim, nhưng không phải là suy tim.
Những triệu chứng mô tả ở trên rất có giá trị làm ta nghĩ
đến suy tim, nhưng để ch...
NHIỄU TÁC GIẢ
Bdc sĩ
tốt nhất
là chính mình
ĐỂ TRÁI TIM LUÔN KMÒE MẠNH
Đúng, X
chính xác
100%
NHÀ XUẤT BẢN TRẺ
3
Bóc sĩ
tốt nhđt
là chính mình
Tập 8: Đề trái tim luôn khỏe mạnh
BIỂU GHI BIÊN MỤC TRƯỚC XUẤT BẢN IX) THƯ VIỆN KHTH TP.HCM THựC HIỆN
Bác sĩ tốl nhất là chính mình T.8. Để trái lim luôn khoe mạnh / Nhicu lác g iã: Lê
Quang lổng hợp -T ái bán l'ân Ihứó. -T.p. H ềChíM inh: Trẻ, 2015.
130 tr .; 20cra.
1. Sức khỏe. 2. Tự chăm sóc sức khoẻ. 3. Tun - Bệnh. I. Lê Quang.
1. HealOi. 2. SelT-care, Health. 3. Heart - Diseascs.
6 IU -d c 2 2
B116
ISBN 978 - 604 - 1- 00904-2
Bác sĩ tắt n h ít chinh mình 8
934974
119517
Y HỌC+SỨ C KHỎE
Nhiều tác giả
BÓC sĩ
tốt nhđt
là chính mình
Tập 8: Để trói tim luôn khỏe mạnh
(Tái bản lần thứ 6)
NHÀ XUẤT BẢN TRẺ
BÁC Sĩ TỐT NHẤT LÀ CHÍNH MÌNH
TẬP 8
Lê QitaniỊ (Tong hợp)
Chịu Irách nhiộm xuất bản:
Giám đốc - Tổng biên tập NGUYỄN MINH NHựT
Biên lập: THANH LIÊM
Biên tập lái hàn: NGỌC PHƯỢNG
Bìa: BIÊN THÙY
Sửa bàn in: VƯƠNG NGHI
Trình bày;
vũ PHƯỢNG
NHÀ XUÃT BÁNTRÈ
Địa chĩ: 161B I.ý Chính Thẩng, Phường 7,
QuẶn 3, Thành phô' Hồ Chí Minh
Điện thoạ i: (08) 39316289 - 39316211 - 39317849 - 38465596
F a x :(08)38437450
E-muil: hopthuhandoc@nxhtre.com.vn
Wcbsile: www.nxblre.com.vn
CHĨ NHÁNH NHÀ XUẤT BẢN TRẺ TẠI HÀ NỘI
Địa chỉ: S ố 21, dãy AI 1, khu Đầm Trâu, Phường Bạch Dằng,
Quận Hai Bà Trưng, Thành phO Hà Nội
Điện thoại: (04) 37734544
F a x :(04)35123395
E-mail: chinhunh@nxblre.com.vn
CỐNG TY TNHH SÁCH ĐIỆN TỬ TRÈ (YBOOK)
16 1B Lý Chính Thắng, P.7. Q.3, Tp. HCM
ĐT: 08 35261001 - Fax; 08 38437450
Email: inro@ybook.vn
Website; www.ybook.vn
Khổ: 14 cm X 20 cm, số: 364-2015/CXBIPH/81-40/Tre
Quyết định xuâ”t bản sô' 234A/QĐ-Tre, ngày 7 tháng 4 năm 2015
In 2.000 cuô'n, tại Xí nghiệp In Nguyễn Minh Hoàng
Địa chỉ: 510 Trưìlng Chinh, phường 13, t)uận Tân Bình
In xong và nộp lưu chiểu quý II năm 2015
LỜI KHUYÊN
DÀNH CHO MỌI NGƯỜI
Trân trọng sức khỏe!
Tận hưởng sức khỏe!
Sáng tạo sức khỏe!
Nếu bạn còn trẻ, và mong muốn được sống vui vẻ và khỏe
mạnh, hãỵ đọc quyển sách này!
Nếu bạn đã già, và mong muốn sống khỏe sống lâu, hãy
đọc quyển sách này!
Nếu bọn nghèo khó, không đủ sức mua thuốc men giá đắt,
hãy đọc quyển sách này!
Nếu bạn giàu có, nhưng lại kém sức khỏe và kém vui, hãy
đọc quyển sách này!
Chỉ cần trích 4 giờ ít ỏi đọc kỹ quyển sách này, nó sẽ mang
lại 36.000 ngày thu hoạch quí giá cho cả cuộc đời bạn!
10 NGHIÊN CỨU MỚI
VỀ BỆNH TIM MẠCH
Những thông tin mới nhốt xung quanh c á c nghiên cứu
khoa họ c về mối liên quan giữa lối sống và bệnh
tim m ợch dưới đây sê giúp bqn có thêm nhiều kiến thức
đ ể phòng tránh cỡn bệnh nguy hiểm này.
1. Các nhà khoa học Canada phát hiện ra rằng những người
có tiền sử bệnh tim mạch phải làm việc căng thẳng sẽ có
nguy cơ mắc bệnh cao gấp 2 lần so với những người làm
việc trong môi trường bình thường. Nghiên cứu được tiến
hành với khoảng 1.000 người ữong vòng 6 năm cho thấy có
ữên 200 người tái phát bệnh ữở lại do làm việc căng thẳng.
2. Theo các nhà nghiên cứu thuộc trường ĐH London, các cặp
vỢ chồng sông không hạnh phúc thường dễ mắc bệnh tim.
Các nhà khoa học thấy rằng những cặp vỢ chồng không
hiểu và đồng cảm với nhau sẽ tăng 34% nguy cơ mắc các
bệnh tim mạch so với những cặp vỢ chồng sông hạnh phúc
và hòa hỢp.
3. Tình trạng suy giảm hoạt động của tuyến giáp có thể làm
tăng nguy cơ mắc các bệnh tim mạch. Theo nghiên cứu mới
nhất thì những người bị giảm hoạt động tuyến giáp dễ mắc
các bệnh tim mạch hơn so với những người có chức năng
tuyến giáp hoạt động bình thường.
4. Những người suy nhưỢc và phiền muộn không được điều
trị kịp thời sau khi bị bệnh tim có nguy cơ tái phát bệnh tim
mạch cao.
5. Các nhà nghiên cứu thuộc ĐH Y Massachusetts cho thấy:
Chương trình giảm cân rất tốt trong việc cải thiện sức khỏe
tim mạch đặc biệt với những người béo phì. Họ cũng cho
rằng chế độ ăn điều chỉnh cân nặng rất tốt cho tim mạch.
6. Các nhà nghiên cứu thuộc Bệnh viện đa khoa Massachusetts
đã tìm ra mối liên quan giữa sự sỢ hãi và bệnh tim mạch.
Họ thấy rằng những phụ nữ lớn tuổi phải trải qua cảm giác
sỢ hãi trong thời gian suốt 6 tháng tăng nguy cơ mắc các
bệnh tim mạch và đột quỵ trong 5 năm cao hơn tới 3 lần so
với những người không trải qua cảm giác sỢ hãi.
7. Các nhà nghiên cứu thuộc Trường Y Sinai đã phát hiện
ra rằng ăn các thực phẩm nhiều chất béo đưỢc chế biến ở
nhiệt độ cao có thể gây rối loạn tình trạng giãn mạch - một
trong những nguyên nhân gây ra các bệnh tim mạch.
8. Những phụ nữ lớn tuổi uống nhiều viên bổ sung calcium
cũng có nguy cơ mắc bệnh tim mạch. Nghiên cứu của ĐH
Auckland cho thấy: Những phụ nữ trên 70 tuổi sử dụng viên
bổ simg calcium làm tăng nguy cơ mắc các bệnh tim mạch
lên 40%.
9. Trong củ hành, tỏi tây, hẹ và hành tươi rất giàu các hỢp
chất có tác dụng giảm cholesterol, làm sạch thành mạch
máu và giảm chứng xơ cứng động mạch.
10. Dậy sớm trước 5 giờ sáng rất có hại cho tim. Các nhà
nghiên cứu Nhật Bản đã phát hiện ra rằng những người
dậy sớm buổi sáng có nguy cơ mắc các bệnh tim mạch như
huyết áp cao, dột quỵ và xơ cứng động mạch cao hơn những
người dậy muộn.
TIM MẠCH NHỮNG CHỈ SỐ CẦN BIẾT
Một số bệnh tật là do di truyền nhưng chúng ta vẫn có thể
cải thiện tình hình bằng cách thay đổi lôì sông, không hút
thuốc và dành ít nhất 30 phút mỗi ngày để lắng nghe những
lời khuyên về sức khỏe và cô" gắng thực hiện nó.
Để hiểu rõ hơn những chỉ số về tim mạch, chúng ta cần biết
những điều cơ bản sau:
C-Reactíve Protein
Đây là chỉ số mới trong danh sách những con số liên quan
đến bệnh tim. Các nhà nghiên cứu đã nhận thấy rằng protein
này như một kháng nguyên cho bệnh tim và đột quỵ. Mặc
dù chưa có đầy đủ thông tin về môi quan hệ giữa C-Reactive
Protein (CRP) và bệnh tim, nhưng sự xuất hiện của nó là dấu
hiệu của chứng phình mạch máu.
Có thể bạn không hiểu gì về CRP nhưng rất nhiều bác sĩ
đã dùng nó để chẩn đoán nguy cơ bệnh tim mạch và đột quỵ.
10
Vậy chỉ số CRP như thế nào là bình thường?
- l.Omg/dL hoặc ít hơn: Bình thường.
- Từ 1.0 đến 3.0mg/l: Mức độ nguy hiểm trung bình.
- Cao hơn 3.0mg/dl: Rủi ro cao.
Nếu người trong gia đình có tiền sử mắc bệnh tim thì bạn
cũng có thể có chỉ sô" C-reactive protein cao do di truyền từ
gia đình dù bạn có thể không bị bệnh.
Huyết áp
Một trong những kháng nguyên mạnh nhất đôi với bệnh
tim là chỉ sô" đo áp huyết (áp lực trong máu). Vậy chỉ sô" đó
có ý nghĩa gì?
- Chỉ sô' cao nhất chính là huyết áp tâm thu (huyết áp tô'i
đa) - đó là áp lực của máu ở thành động mạch trong suốt một
nhịp đập của tim, khi tim đang bơm máu đi.
- Chỉ sô" thứ hai là huyết áp tâm trương (huyết áp tối thiểu)
- đó là áp lực của máu ở thành động mạch giữa các nhịp đập
của tim, khi tim đang đầy máu.
- Huvết áp bình thường khoảng 119/79 hoặc thấp hơn.
- Huyết áp hơi cao khoảng 120 đến 139 (tâm thu) và từ 80
đến 89 (tâm trương).
- Huyết áp cao từ 140 hoặc cao hơn (tâm thu) và từ 90 trở
lên (tâm trương).
11
Các chuyên gia khuyên rằng những người có khả năng bị
huyết áp cao (khoảng 45 triệu người) nên thay đổi lối sống để
giúp “trái tim khỏe mạnh” hơn, giảm thiểu những rủi ro do
biến chứng cao huyết áp để lại như bệnh tim, đột quỵ, tai biến
mạch máu năo và những bệnh nguy hiểm về thận.
Cholesterol
Một trong những nguy cơ dẫn tới bệnh tim là mức
cholesterol, yếu tố dinh dưỡng cần thiết của cơ thể. Tuy nhiên,
quá nhiều cholesterol xấu hoặc không đủ lượng cholesterol
tốt trong máu sẽ gây ra xơ vữa động mạch dẫn đến bệnh tim
và đột quỵ.
Mức độ cholesterol không bình thường khi:
- Tổng sô" cholesterol khoảng 200mg/dl hoặc cao hơn.
- HDL (mức độ cholesterol tô"t) ít hơn 40mg/dl.
- LDL (mức độ cholesterol xấu) khoảng 16Qmg/dl hoặc cao
hơn. Và với 190mg/dl là râ"t cao.
Tuy nhiên nếu bạn giữ LDL ở mức thấp là tốt nhất. Nếu LDL
ít hơn lOOmg/dl được coi là tốt nhất, từ 100 đến 129: tạm đưỢc
và từ 130 đến 159 là ranh giới dễ chuyển sang mức LDL cao.
Trọng lượng cơ thể
Có râ"t nhiều cách để biết bạn có quá béo hay không nhưng
cách tính BMI (Body Mass Index - chỉ sô" khô"i lượng cơ thể)
sẽ cho kết quả tương đối chính xác. BMI sử dụng cân nặng và
12
chiều cao để đo toàn bộ cơ thể béo hay gầy. Bạn có thể dùng
biểu đồ sau để đánh giá BMI của mình:
- BMI từ 18,5 đến 24,9: Lý tưởng.
- BMI từ 25 đến 29,9; Thừa cân.
- BMI trên 30: Béo phì.
- BMI trên 40: Quá béo phì, nguy cơ mắc các bệnh khác là
rất cao.
Đái tháo đường type 2
Thừa cân và ít tập thể dục là nguyên nhân dẫn đến bệnh
đái tháo đường type 2. Không chỉ vậy, nó còn dẫn đến nhiều
bệnh đáng sỢ khác như bệnh tim, đột quỵ, thận, thậm chí gây
mù mắt.
Nếu bạn kiểm tra thấy lượng đường trong máu tăng nhanh
sau khi không ăn uống bất cứ thứ gì, kể cả uô"ng nước sau 8
tiếng thì nói chung bạn sẽ được chẩn đoán mắc bệnh đái tháo
đường type 2.
- Lượng đường trong máu thông thường ít hơn lOOmg/dl.
- Tiền đái tháo đường: 100 đến 125mg/dl.
- Mắc bệnh đái tháo đường từ 126mg/dl trở lên.
Vì vậy thường xuyên kiểm tra và giữ các chỉ số về huyết áp,
cholesterol, C-Reactive Protein, BMI, chỉ sô" đường trong máu
sẽ giúp bạn thoát đưỢc gánh nặng bệnh tật cho mình.
13
RỐI LOẠN NHỊP TIM:
NGUYÊN NHÂN VÀ
C Á C H PHÒNG TRÁNH
Hoợt động bình thường củ a tim sé bị ánh hưởng khi bị
một trong ba thành phồn: cơ tim, van tim, hệ thần kinh
tim bị tổn thương. Tổn thương hệ thần kinh tim làm xung
động dân truyền trong tim bị rối loợn. dân đến c á c buồng
tim co bóp không theo tuồn tự. Máu được hút đẩy
không đều trong tim gâ y hậu quá là máu ứ lợl trong
tim đồng thời m áu không được cung c ố p đầy đủ
cho hệ tuồn hoàn gây ra rối loợn nhịp tim.
Các biểu hiện của rôi loạn nhịp tim
Một số rôì loạn nhịp tim không gây biểu hiện gì, tuy nhiên
phần lớn các bệnh rô"i loạn nhịp tim đều có các biểu hiện rất
rõ bằng các dấu hiệu:
1. Với loạn nhịp tim nhanh và nhịp không đều
Hồi hộp, đánh trống ngực: nhịp tim đập dồn dập hoặc đập
tăng dần.
Hụt hẫng: nhịp tim đập cách quãng trong giầy lát.
14
Khó thở - thở nhanh, nông: nhịp tim đập loạn xạ, hay nhiều
nhịp cách quãng xuất hiện trong thời gian ngắn.
Một số biểu hiện hay gặp khác: đau ngực, choáng váng, hoa
mắt, đau đầu nhẹ dai dẳng.
Khi nhịp tim đột ngột đập nhanh loạn xạ có thể là báo hiệu
của đe dọa tính mạng.
2. Với loạn nhịp tim chậm
Các biểu hiện kín đáo hơn: mệt mỏi triền miên, hoa mắt
choáng váng, đau đầu nhẹ dai dẳng, có thể ngất. Phần lớn
các bệnh nhân rô'i loạn nhịp tim bị ngất đột ngột mà không
có dấu hiệu báo trước.
Tuy nhiên đôi khi người bệnh thấy được một số biểu hiện
báo trước: hoa mắt, chóng mặt; nhìn thấy quầng xanh trước
mắt; vã mồ hôi; nôn hoặc buồn nôn; chướng bụng; đánh trông
ngực; đau đầu; lú lẫn hay khó diễn đạt suy nghĩ.
Nguyên nhân gây ra rối loạn nhịp tim
Mọi người đều từng trải qua cảm giác tim của mình đập rối
loạn trong một khoảnh khắc nào đó, tuy nhiên sự xuất hiện
đó qua đi và không ảnh hưởng đến cuộc sông. Nhưng cũng
có những rối loạn nhịp tim tồn tại, ảnh hưởng hoặc gây nguy
hiểm đến cuộc sông do đó cần được chẩn đoán và điều trị
kịp thời.
Nguyên nhân gây rối loạn nhịp tim có thể chia ra là nguyên
nhân bẩm sinh và nguyên nhân mắc phải:
15
Nguyên nhân bẩm sinh: Biểu hiện bệnh có thể từ nhỏ hoặc
xuất hiện trong bất kỳ giai đoạn nào của cuộc sông.
Nguyên nhân mổc phải: Bệnh lý cơ tim, van tim và một số
nguyên nhân khác tác động tới hệ thần kinh tim, dẫn tới các
hoạt động bât thường của hệ thần kinh tim.
Một sấ rôíi loạn nhịp tim hay gặp
Rô'i loạn nhịp nhanh thất, có thể gặp các biểu hiện như;
1. Nhịp nhanh nhĩ
Xuất hiện một ổ phát nhịp khác với nút xoang ở tâm nhĩ,
nó phát ra các xung động lấn át xung động từ nút xoang làm
tim đập rất nhanh, không đều.
• Rung nhĩ: Tâm nhĩ co bóp loạn xạ và rất nhanh lên đến
trên 350 nhịp/phút, đồng thời làm cho tâm thất co bóp nhanh
và không đều. Loạn nhịp này dễ dẫn đến các rôì loạn nhịp
khác. Rung nhĩ gây biểu hiện mệt mỏi mãn tính, suy tim ứ
máu và nguy cơ đột quỵ cao hơn 5 lần so với người không bị
rung nhĩ.
• Cuồng nhĩ: Là tình trạng tâm nhĩ đập rất nhanh, thậm
chí lên đến 300 nhịp/phút và hậu quả là tim đập rất nhanh
và không đều.
• Nhịp xoang nhanh: Nhịp xoang nhanh thường gặp trong
lúc lo lắng hay tập luyện, khi nghỉ ngơi thì nhịp sẽ trở lại bình
thường. Trong một sô" bệnh như sô"t cao, thiếu máu hay cường
tuyến giáp cũng có nhịp nhanh xoang và khi bệnh đưỢc điều
trị, nhịp tim cũng sẽ trở lại bình thường.
16
2. Nhịp nhanh thốt do rung thất.
• Rôì loạn nhịp nhanh thất
- Nhịp nhanh thất tự phát: Do một nhóm tế bào tại tâm thất
phát ra xung động kích thích tâm thất co bóp, làm tâm thất co
bóp không đều với tâm nhĩ.
- Nhịp nhanh thất do bệnh tim thiếu máu cục bộ: Vùng cơ
tim bị thiếu máu trong bệnh mạch vành gây ra vết sẹo, vết sẹo
này tạo nên những đường dẫn truyền xung động bất thường
trong tâm thất, kích thích tâm thất co bóp mà không cần xung
động từ tâm nhĩ chuyển xuông. Với hai tổn thương trên, tâm
thất đều co bóp khi chưa chứa đủ máu, do đó tim đập rất
nhanh mà máu vẫn không được bơm đủ ra hệ tuần hoàn. Bệnh
nhân thường cảm thấy mệt mỏi, khó tập trimg, thở nhanh. Nếu
không điều trị kịp thời dễ xuất hiện rung thất.
• Rối loạn nhịp chậm
Khi nhịp tim chậm xuông dưới 60 nhịp/phút, có nguy cơ
không cung cấp đủ máu ra hệ tuần hoàn, tuy nhiên với những
người thường xuyên hoạt động thể thao, nhịp tim của họ có
thể thấp dưới 60 nhịp/phút.
Rối loạn nhịp chậm có thể không gây biểu hiện gì rõ rệt,
có thể xuất hiện những biểu hiện sau: mệt mỏi, chóng mặt,
choáng váng, đau đầu, thở nông hoặc ngất.
Rối loạn nhịp chậm chia ra hai loại chính:
- Suy yếu nút xoang: Suy yếu nút xoang không phải là một
bệnh đặc trưng, nó thể hiện bằng một nhóm các triệu chứng
thể hiện nút xoang không duy trì hoạt động bình thường. Nhịp
17
tim có thể chuyển luân phiên từ rối loạn nhịp chậm sang nhịp
nhanh.
- Block nhĩ thất: Block nhĩ thất là hiện tượng xung động bị
cản trở khi đi từ tâm nhĩ xuống tâm thất.
Điều trị
Tùy theo từng nguyên nhân gây rô"i loạn nhịp tim mà có
cách điều trị như: dùng thuốc, can thiệp tim mạch hay phẫu
thuật. Dù là phương pháp điều trị nào thì bệnh nhân cũng phải
thực hiện các thói quen tô"t trong cuộc sống như: tập luyện,
không hút thuôh lá, chế độ ăn uô"ng và sinh hoạt hỢp lý.
Phòng tránh rối loạn nhịp tim bằng cách nào?
1. Lựa chọn một thói quen sống tốt: tập luyện thường xuyên,
ăn ít châ"t mỡ, ăn nhiều rau và các thực phẩm chứa nhiều
vitamin, duy trì cân nặng ở mức cho phép.
2. Không hút thuôc lá.
3. Hạn chế dùng các chất gây kích thích cho tim như cà
phê, rượu...
4. Tránh các căng thẳng, bảo đảm đủ thời gian nghỉ ngơi.
5. Kiểm tra sức khỏe định kỳ.
6. Điều trị tô't các bệnh lý liên quan: bệnh xơ vữa động
mạch, mỡ máu cao, bệnh mạch vành, bệnh van tim, bệnh
tuyến giáp...
18
KHÁI NIỆM VẾ
CHOLESTEROL TRONG MÁU
Cholesterol là gì?
Cholesterol là một chất béo mềm, màu vàng nhạt, kết tinh
đưỢc tìm thấy trong máu chúng ta. Nó được sản xuất hàng
ngày trong gan (nguồn gô'c nội sinh), mỗi ngày từ l,5g - 2g.
Nguồn gô'c cholesterol ngoại sinh là từ việc ăn uô'ng các chất
mỡ động vật.
Cholesterol đưỢc lấy đi khỏi cơ thể bởi gan dưới dạng mật.
Cholesterol cần thiết cùng với các chất béo khác để tạo ra
màng tế bào, các hormone steroid và sinh dục (testosterone
và estrogen). Do tính chất không hòa tan trong máu nên
cholesterol lưu chuyển khắp cơ thể cần có sự trỢ giúp của các
chất chuyên chở là lipoprotein, gồm lipoprotein có tỉ trọng
thấp (LDL) và lipoprotein có tỉ trọng cao (HDL). Hai loại này
chỉ phân biệt đưỢc bởi tính chất rất khác nhau về tỉ trọng.
LDL có nhiệm vụ chuyên chở cholesterol từ gan đi khắp
các mô và tế bào cơ thể, trong khi HDL phân phát lại phần
cholesterol không dùng đến trở về gan, phân hủy sau cùng
19
thành các muôi mật được thải trừ bằng đường tiêu hóa.
Cholesterol máu được đo bằng đơn vị mg/dl (hay mg%).
Mức cholesterol cho LDL của người khỏe mạnh nên thấp
hơn 130mg/dl, trong khi HDL nên cao hơn mức ngưỡng là
50mg/dl. Tuy nhiên chúng ta cũng cần lưu ý thêm về tỉ lệ giữa
HDL và LDL.
Tại sao cholesterol dược cho ià luôn liên hệ đến các
bệnh tim mạch?
Khi cơ thể chúng ta có một mức quá cao LDL (cholesterol
xấu) như là trên 160mg/dl, chúng bắt đầu tích tụ lại ở mặt
trong thành các động mạch, tạo ra các mảng bám. Hơn nữa,
cục máu đông có thể xuất hiện trên các mảng này làm giảm
đi lượng máu lưu thông, oxygen và các chất dinh dưỡng đi ra
từ tim nhằm cung cấp cho não chúng ta. Hiện tượng đó chắc
chắn tạo ra các bệnh tim mạch, thường dẫn đến các cơn đau
tim và tai biến mạch não.
Tuy vậy cũng có trường hỢp ngoại lệ là có những người có
một mức cholesterol khá cao lại không mắc bệnh tim mạch
nào cả.
Thực phẩm trong thiên nhiên làm giảm cholesterol
trong máu
1. Trong trái táo (apple) có nhiều chất pectin, một chất đưỢc
cho là giảm được lượng châT béo hâ'p thụ bởi các tế bào
mỡ, bao gồm cả phần nạc trái táo khi chúng ta uô"ng nước
táo xay.
20
2. Trái lê tàu rất giàu chất béo nhóm không bão hòa đơn,
giúp làm giảm được cholesterol. Nó còn có thêm một chất
sterol là beta-sitosterol được biết có tác dụng ngăn ngừa
sự tái hấp thụ cholesterol ở ruột; như thế giảm được mức
cholesterol máu.
3. Trái dưa chuột cũng có chứa một loại sterol giảm được
cholesterol.
4. Củ tỏi giúp giảm cholesterol máu và huyết áp. Tỏi tươi rất
rẻ, nên có sẵn trong các bữa ăn của bạn. Cách tốt nhất để
giữ được các chất này không bị phá hủy là ăn sông, và chỉ
nên thêm vào lúc bắt đầu ăn. Tỏi còn được cho là một chất
làm mỏng thành mạch máu.
5. Gừng không chỉ thông dụng trong dân gian dùng để chống
chứng say tàu xe, mà còn có khả năng giảm cholesterol
máu, nên dùng nhiều trong chế biến thức ăn của bạn.
6. Trà xanh có chất chông oxy hóa nên thường dùng để chông
lại tác dụng tổn hại của các gốc tự do.
7. Các loại đậu: đậu nành, đậu xanh, đậu lăng (lentil) có
nhiều chất sỢi tan cũng có tác dụng giảm được cholesterol.
8. Các loại quả như óc chó (walnut), hạnh (almond) có nhiều
chất béo không bão hòa đơn.
9. Dầu olive cũng chứa nhiều chất béo không bão hòa đơn.
10. Policosanol chiết xuất từ sáp ong, phấn sáp của đường mía
giúp giảm LDL cholesterol và tăng HDL, giảm hiện tượng
máu cục và cải thiện tô"t tuần hoàn.
21
11. Tập ứiể dục nhẹ thật đều đặn tôd hơn là tập quá sức không
đều: chỉ cần tập độ 30 phút mỗi ngày và 3 ngày trong
tuần như đi bộ, chạy lúp xúp, đi xe đạp, tập đi bằng thang
thường thay vì dùng thang máy, năng làm công việc nhà.
12. Hạt lanh (Aaxseed) dạng dầu có nhiều omega - 3, acid béo
đưỢc khảo sát có tác dụng tốt giúp giảm cholesterol.
13. Protein đậu nành: một nguồn protein thực vật trong thiên
nhiên tốt hơn thịt. Nên ăn những thức ăn từ đậu nành bao
gồm đậu hũ, sữa đậu nành và mọi sản phẩm chế biến từ
đậu nành.
14. Cà chua: cũng chứa một chất chông oxide hóa là lycopene
(tạo ra màu sắc cà chua) giảm đưỢc LDL cholesterol.
15. Niacin (vitamin B3) giúp giảm cholesterol máu nhưng có
tác dụng phụ là làm đỏ da.
22
AI DẾ BỊ
NHỒI MÁU C ơ TIM?
Những người trong nhóm dưới đây thường dễ bị nhồi máu
cơ tim:
- Trong gia đình có người bị thiếu máu cục bộ cơ tim.
- Hút thuôc lá nhiều.
- Rối loạn chuyển hóa mỡ máu.
- Mắc bệnh tăng huyết áp, đái tháo đường, béo phì.
- ít vận động thể lực.
- Sông trong môi trường dễ bị stress.
Dấu hiệu dễ nhận biết nhất của chứng thiếu máu cục bộ cơ
tim là cơn đau thắt ngực với các đặc điểm sau:
- Thường xảy ra sau khi gắng sức, làm việc nặng, xúc động
mạnh, sau bữa tiệc thịnh soạn, khi thời tiết quá lạnh.
- Có cảm giác đau ở ngực trái, vùng trước tim, đôi khi chỉ
thấy khó chịu; hoặc có cảm giác nặng như bị đè ép ở sau xương
ức, cảm giác này lan đến cổ, hàm, vai trái, cánh tay trái.
23
Cơn đau chỉ diễn ra trong vài giây đến vài phút, thường
không quá 5 phút. Khi đau kéo dài quá 15-20 phút, phải nghĩ
đến nhồi máu cơ tim. Tần suất cơn đau thường thay đổi: có
thể vài tuần, vài tháng một lần, nếu nặng hơn thì vài lần ừong
một ngày. Đồng thời với đau ngực, người bệnh cảm thấy hồi
hộp, lo âu, khó thở, vã mồ hôi, buồn nôn, đánh trông ngực,
choáng váng.
24
CHỨNG NHỐI MÁU cơ TIM
VÀ C Á C H XỬ TRÍ
Đó là hiện tượng mạch máu nuôi tim (động mạch vành) bị
tắc nghẽn khiến cơ tim chết đi và không thể hồi phục. Nếu
không điều trị kịp thời, vùng cơ tim bị tổn thương sẽ lan rộng
và dẫn đến tử vong. Nếu tổn thương nhỏ, bệnh nhân sẽ bị suy
tim hoặc tăng nguy cơ đột tử.
Nhồi máu cơ tim thường xảy ra ở nam giới trên 45 tuổi và
phụ nữ đã mãn kinh (sau 50 tuổi). Tuy nhiên, những người trẻ
hơn cũng có thể bị tai biến này. Ngoài yếu tố tuổi tác, các yếu
tô' sau cũng làm tăng nguy cơ nhồi máu cơ tim:
- Từng bị nhồi máu cơ tim hoặc thực hiện các thủ thuật can
thiệp mạch vành.
- Bô' hoặc anh được chẩn đoán bệnh mạch vành trước 55
tuổi; mẹ hoặc chị được chẩn đoán bệnh này trước 65 tuổi,
- Có một trong các bệnh: đái tháo đường, tăng cholesterol
máu, tăng huyết áp, béo phì.
- Hút thuốc lá.
- ít hoạt động thể lực.
25
triệu chứng nhồi máu cơ tim, người ta thường nghĩ đến
hình ảnh một người đột ngột ôm ngực kêu đau dữ dội và ngã
xuông. Nhưng thực ra, nhiều bệnh nhân chỉ bị một cơn đau
ngực nhẹ ở giữa xương ức và triệu chứng này có thể nhanh
chóng qua đi, khiến người bệnh cho là bình thường. Những
dâ'u hiệu sau đây có thể báo hiệu nhồi máu cơ tim:
về
- Đau ngực: Phần lớn các cơn đau ngực xuất hiện ở giữa
xương ức, kéo dài vài phút, sau đó hết rồi lại đau lại. Bệnh
nhân có cảm giác như bị đè nặng, bóp nghẹt ở ngực.
- Có cơn đau ở các vị trí khác như tay, lưng, cổ, hàm, thượng
VỊ.
- Khó thở: Thường đi kèm với đau ngực, nhưng có thể xuất
hiện trước đó.
- Các triệu chứng khác: Toát mồ hôi lạnh, nôn, choáng
váng. Một số bệnh nhân có cảm giác như “trời sắp sụp”.
Tuy chứng nhồi máu cơ tim rất nguy hiểm nhưng nếu nhận
biết sớm để điều trị kịp thời (dùng thuôc làm tan huyết khôi
hoặc phẫu thuật nong động mạch vành), bệnh nhân sẽ tránh
được tử vong và những biến chứng sau đó. Các biện pháp trên
có thể hạn chế tôl đa vùng cơ tim bị chết, hồi phục một sô"
vùng mới tổn thương. Càng vào viện sớm, khả năng hồi phục
hoàn toàn càng cao. Hiệu quả điều trị sẽ tô"t nhâl nếu bệnh
nhân được xử trí trong vòng 1 giờ đầu.
Vì vậy, khi có những dấu hiệu báo trước cơn nhồi máu cơ
tim kể trên, hây đến ngay bệnh viện hoặc gọi ngay cấp cứu.
Tại cơ sở y tế, bác sĩ sẽ xác định xem có đúng bạn bị nhồi máu
26
cơ tim hay không bằng cách hỏi các câu như: Cơn đau ngực bắt
đầu từ lúc nào, đột ngột hay từ từ? Bạn đang làm gì khi đó?
Mức độ đau như thế nào? Cơn đau kéo dài bao lâu? Có triệu
chứng gì đi kèm (nôn, toát mồ hôi, choáng váng, cảm giác hồi
hộp đánh trống ngực)?
Để xác định chẩn đoán, bác sĩ sẽ cho làm một sô" xét
nghiệm như điện tâm đồ, chụp động mạch vành. Những biện
pháp này cũng giúp bác sĩ lựa chọn phương pháp điều trị.
Cách điều trị tô"t nhất hiện nay cho chứng nhồi máu cơ tim
là can thiệp mạch vành, và phẫu thuật này chỉ có tác dụng
trong 12 giờ đầu.
27
BỆNH SUY TIM
Tim có hai chức năng cụ thể:
1. Co bóp để đẩy máu qua các động mạch đi nuôi toàn cơ
thể.
2. Giãn ra để hút máu đã hết oxy và chứa chất thải trở về
tim qua các tĩnh mạch.
Nếu vì một lý do nào đó tim không làm trọn được một trong
hai chức năng đó, hoặc cả hai, người ta nói đó là suy tim. Như
vậy suy tim không phải là một bệnh, mà là một hội chứng,
nghĩa là một tập hỢp của nhiều triệu chứng và dấu hiệu. Vậy
nguyên nhân nào dẫn đến suy tim?
Trước hết, tất nhiên các bệnh của bản thân tim là nguyên
nhân thường gặp nhất của suy tim. Có thể nói rằng bệnh nào
của tim cuôl cùng cũng đưa đến suy tim, chẳng khác gì thời
cổ đại, người ta hay nói rằng con đường nào cũng dẫn đến
thành Rome.
Những bệnh chính của tim có thể gây suy tim là:
Những bệnh tim bẩm sinh mắc từ khi còn nằm trong bụng
mẹ, như: thông liên nhĩ, thông liên thâ't, còn ô"ng động mạch...
Cứ 100 trẻ đẻ sớm, thì có 1 trẻ mắc bệnh tim bẩm sinh.
28
Những bệnh van tim do thấp khớp cấp để lại hậu quả,
nhiều nhất là hẹp hai lá, rồi đến hở hai lá, hở van chủ, hẹp
van chủ. Những bệnh này thường mắc từ tuổi đi học, 7-16 tuổi,
nhưng phần nhiều lớn lên mới được chẩn đoán. Đây là nguyên
nhân suy tim hay gặp nhất ở Việt Nam.
Những bệnh tim do thiếu máu cục bộ, như đau thắt ngực,
nhồi máu cơ tim, một sô" rô"i loạn nhịp tim hoặc suy tim. Đây
là bệnh của những người đứng tuổi 40-50 tuổi trở lên, động
mạch vành hay bị hẹp vì xơ vữa.
Những chứng viêm cơ tim do nhiễm trùng; những bệnh cơ
tim nguyên nhân chưa rõ như bệnh cơ tim giãn, bệnh cơ tim
phì đại, tuổi nào cũng có thể mắc.
Hai chức năng của tim
a. Tăm thu, tim bơm máu vào động mạch phổi đ ể được oxyhóa
b. Tâm trương, tim hút máu từ các tĩnh mạch về
29
Những bệnh màng ngoài tim như tràn dịch, viêm co thắt
màng ngoài tim, phần lớn do nhiễm trùng các loại, nên không
phụ thuộc vào tuổi.
Những rô"i loạn nhịp tim như loạn nhịp hoàn toàn (còn gọi
là rung nhĩ), tim quá chậm hoặc quá nhanh, dù do thiếu máu
cục bộ hay không, cũng có thể gây suy tim.
Các bệnh khác có khả năng gây suy tim
Ngoài những bệnh của quả tim kể trên, một sô' bệnh của
mạch máu chủ yếu là của động mạch, cũng có thể đưa đến
suy tim. Quan ữọng nhất là tăng huyết áp, còn hẹp động mạch
vành đã được coi là thiếu máu cục bộ cơ tim nói ở trên rồi.
Hẹp động mạch thận cũng có thể dẫn đến suy tim vì nó cũng
làm tăng huyết áp.
Những bệnh của phế quản hoặc phổi mãn tính (gọi là
COPD - Chronic Obstructive Pulmonary Disease = bệnh phổi
tắc nghẽn mãn tính) lâu ngày có thể đưa đến suy tim, gọi là
tim phổi mạn. Cuô'i cùng một sô' bệnh toàn thân cũng có khi
dẫn đến suy tim, điển hình là suy tim do tuyến giáp hoạt động
thái quá hoặc kém quá (suy giáp); nhiễm độc giáp; suy tim do
thiếu máu. Một sô' nhiễm độc hoặc suy dinh dưỡng, rối loạn
điện giải cũng đôi khi gây ra suy tim.
Nên chú ý rằng lao động thể lực quá sức nếu tim bình
thường, không thể đưa đến suy tim được. Người đưa tin chiến
thắng chạy 42km từ Marathon đến Athens (Hy Lạp) năm 490
trước Công nguyên, chết vì kiệt sức chứ tim không suy. Gần
30
đây, một sô' võ sĩ quyền Anh chết ngay sau trận đấu, cũng
không phải vì suy tim, mà vì chảy máu não. Cho nên nếu tim
không có bệnh thì các vận động viên cũng như những người
lao động nặng, không nên sỢ suy tim mà không dám tập và
làm việc hết sức mình.
Đôi với lao động trí óc cũng vậy, làm việc quá sức cũng
không gây suy tim. Mất ngủ kéo dài, buồn phiền lo lắng, căng
thẳng tinh thần có thể gây những rô'i loạn chức năng nhẹ về
thần kinh tim chứ không thể trực tiếp gầy suy tim được. Theo
kinh nghiệm thực tế Việt Nam, có thể phần nào dựa theo tuổi
để tìm nguyên nhân suy tim. ớ tuổi trẻ, thanh thiếu niên bị
suy tim phần nhiều do thấp khớp cấp, các bệnh van tim, các
bệnh tim bẩm sinh, ở người đứng tuổi, từ 40-45 trở lên, nên
nghĩ đến các nguyên nhân tăng huyết áp, thiếu máu cục bộ
cơ tim, nhồi máu cơ tim. Còn các nguyên nhân có thể gặp ở
bất kỳ tuổi nào là viêm cơ tim, viêm màng ngoài tim, bệnh cơ
tim, rôl loạn nhịp tim và các bệnh toàn thân.
Triệu chứng của suy tim ià gì?
Khó thở là dâu hiệu quan trọng nhâ't.
Khó thở ở đây có nghĩa là người bệnh phải khó nhọc hơn
bình thường mới thở đưỢc. Có người dùng những từ khác chỉ
triệu chứng khó thở như: hụt hơi, ngắn hơi, thở gấp, tức thở.
Người ngoài nhìn thấy cũng thấy bệnh nhân thở nhanh hơn,
nông hơn và có vẻ khó nhọc hơn.
Khi suy tim mới bắt đầu, chỉ khi nào hoạt động nặng, khi
31
nào gắng sức mới khó thở vì thế gọi là khó thở gắng sức. Tất
nhiên người bình thường cũng thấy khó thở khi làm nặng.
Nhưng người suy tim dễ bị khó thở hơn nhiều. Dần dần suy
tim càng nặng bao nhiêu thì người bệnh càng khó thở nhiều,
thậm chí có người chỉ bước lên vài bậc thềm, hoặc tự tắm giặt
kỳ cọ cũng khó thở. Cuối cùng, người bệnh khó thở cả khi ngồi
nghỉ không làm gì cả.
Người bệnh nên chú ý nhận xét xem mình gắng sức đến
mức nào thì bắt đầu khó thở, để đánh giá mức độ khó thở.
Nên chú ý rằng “gắng sức”, ở đầy chỉ tính đến những gắng
sức về thể lực như lên dô"c, mang vác nặng, chạy, nhảy, đi
ngược gió... Đó là những gắng sức tiêu thụ nhiều oxygen. Các
gắng sức về trí óc như suy nghĩ tìm cách giải quyết một vấn
đề gì, tập trung tư tưởng học tập, lo lắng vì kinh tế khó khăn,
không đòi hỏi nhiều oxygen nên cũng không gây khó thở và
suy tim.
Căn cứ vào mức độ khó thở, xảy ra khi gắng sức ít hay
nhiều, ngày nay các nhà chuyên khoa Việt Nam cũng như trên
thê giới chia ra 4 độ suy tim:
Suy tim độ I: Người bệnh chưa thấy triệu chứng gì của suy
tim dù lúc nghỉ ngơi hay khi gắng sức, sinh hoạt hàng ngày
vẫn bình thường. Có thể coi là suy tim tiềm ẩn.
Suy tim độ II: Sinh hoạt hàng ngày đã bị ảnh hưởng nhẹ,
nghỉ ngơi thì không có triệu chứng gì, nhưng hoạt động thường
nhật đã thấy khó thở. Có thể gọi là suy tim nhẹ.
Suy tim độ III: Sinh hoạt bị ảnh hưởng mức độ trung bình,
32
nghĩa là nghỉ ngơi vẫn không có ữiệu chứng gì, nhiing chỉ hoạt
động nhẹ hơn thường nhật đã thấy khó thở rồi. Đây là suy tim
trung bình.
Suy tim độ IV: Sinh hoạt bị ảnh hưởng nhiều, cả khi nghỉ
ngơi cũng thấy khó thở, chỉ làm được những việc nhẹ.
Suy tim ở đây đưỢc coi là nặng, ở các độ tnmg bình và nặng
(độ III và IV), khó thở có khi xuất hiện cả lúc nằm buộc bệnh
nhân phải ngồi suô't đêm. Cũng nên hiểu qua tại sao suy tim
lại làm bệnh nhân khó thở? Vì “bơm” tim bị yếu, không hút
được máu từ phổi về nên phổi bị ứ huyết. Do đó phổi mất tính
đàn hồi trở nên cứng đờ, các cơ thở phải mất nhiều công sức.
Như vậy chúng vừa phải làm việc nhiều hơn, mà lại chỉ nhận
đưỢc ít oxygen hơn do suy tim, nên chóng mệt hơn.
Triệu chứng khó thở này khá đặc trưng cho suy tim nhưng
lại làm cho bệnh nhân, đôi khi cho cả thầy thuôc ít kinh
nghiệm, tưởng là bệnh phổi, và đi khám lao hoặc khám hen.
Chúng tôi đã gặp nhiều bệnh nhân dã đi “vái tứ phương” nhất
là phương Viện Lao và Bệnh viện Phổi, Bệnh viện Dị ứng, cuối
cùng mới đến “phương” đúng là Bệnh viện Tim mạch.
Các triệu chứng khác không quan trọng bằng;
- Ho, cũng vì máu ứ trong phổi. Ho khan hoặc ho ra máu,
thường xuất hiện khi gắng sức. Phù, do máu ứ ở các tĩnh mạch
xa tim không được “hút” về tim. Gan to, cũng do máu ứ ở gan.
Đái ít vì thận không được nhận đủ máu do tim suy.
- Trông ngực vì tim suy hay đập nhanh.
- Mệt mỏi, yếu cơ vì máu không đến đủ nuôi các cơ.
33
“Bóng tim ” khi chụp X quang
a.
Tim bình thường, tỉ lệ tim/ngực dưới 50%.
h. Tim to, trường hỢp này vì hẹp - hở hai lá, tỉ lệ tim/ngực 68%.
Còn các triệu chứng không phải của suy tim: ngất, đau ngực,
ngủ mê, bóng đè... Những triệu chứng này có thể là của bệnh
tim, nhưng không phải là suy tim.
Những triệu chứng mô tả ở trên rất có giá trị làm ta nghĩ
đến suy tim, nhưng để ch...
 





